Thực phẩm & Dinh dưỡng

Bệnh tay chân miệng có nguy hiểm không?

Tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây ra, lây lan chủ yếu theo đường tiêu hoá. Đây là bệnh phổ biến ở trẻ nhỏ và có thể gây ra biến chứng nếu không chữa trị kịp thời. Vậy bệnh chân tay miệng có nguy hiểm không, khi nào trở nên nguy hiểm?

Những Nội Dung Cần Lưu Ý

1. Bệnh tay chân miệng có nguy hiểm không?2. Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh tay chân miệng cao?3. Bệnh tay chân miệng có mấy cấp độ?4. Cách phòng biến chứng nặng dành cho trẻ đã bị bệnh?5. Bệnh tay chân miệng có tái phát không?
1. Bệnh tay chân miệng có nguy hiểm không?
Tay chân miệng là một trong số mười bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc và tử vong hàng đầu Việt Nam. Đa số bệnh nhân ở độ 1 có thể tự khỏi. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân được nhập viện trong tình trạng nặng, nguy hiểm, do biểu hiện thể nhẹ của bệnh dễ nhầm lẫn với các bệnh phổ biến như: Loét miệng, mọc răng, hoặc bị hăm tã, côn trùng đốt,… Một số biến chứng do bệnh tay chân miệng gây ra có thể kể đến đó là: Bội nhiễm, viêm não, viêm màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp…

Vì vậy các bậc phụ huynh không nên chủ quan khi con bị tay chân miệng, cần theo dõi sát các triệu chứng của con, nếu có biểu hiện giật mình khi ngủ cần đến khám ngay bác sĩ để phát hiện bệnh kịp thời.

Bệnh chân tay miệng có nguy hiểm không?

2. Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh tay chân miệng cao?
Bệnh tay chân miệng có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên, theo thống kê, bệnh chủ yếu ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt là nhóm dưới 3 tuổi. Trẻ học tập, sinh hoạt tại môi trường tập thể (nhà trẻ, mẫu giáo), thường xuyên tiếp xúc với các sân chơi kém vệ sinh, chỗ chơi cho trẻ chưa được sạch sẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho virus xâm nhập.

3. Bệnh tay chân miệng có mấy cấp độ?
Bệnh tay chân miệng có 4 cấp độ, cấp độ 1 là thể nhẹ, từ độ 2B bệnh trở nên nguy hiểm, bệnh nhân cần được điều trị tại các phòng cấp cứu, hồi sức.

 Độ 1: Chỉ loét miệng, có thể tổn thương da.

 Độ 2A: Giật mình dưới 2 lần/30 phút và không ghi nhận lúc khám hoặc sốt trên 2 ngày hay sốt trên 39oC kèm nôn, lừ đừ, khó ngủ, quấy khóc.

Độ 2B: Trẻ giật mình lúc khám, hoặc trước lúc khám nhưng trên 2 lần/30 phút hoặc giật mình kèm ngủ gà, mạch nhanh > 130 lần /phút (khi trẻ nằm yên, không sốt). Hoặc có một trong các biểu hiện sau:

– Sốt ≥ 39,5oC (đo ở hậu môn) không đáp ứng với thuốc hạ sốt.

– Mạch nhanh >150 lần/phút khi trẻ nằm yên, không sốt. 

– Thất điều: Run chi, run người, ngồi không vững đi loạng choạng.

– Rung giật nhãn cầu, lác mắt.

– Yếu chi hoặc liệt chi.

– Liệt thần kinh sọ: Nuốt sặc, thay đổi giọng nói…

Độ 3: Bệnh với biến chứng thần kinh, hô hấp, tim mạch nặng

– Mạch nhanh > 170 lần/phút (khi trẻ nằm yên, không sốt), hoặc chậm (dấu hiệu rất nặng).

– Vã mồ hôi, lạnh toàn thân hoặc khu trú.

 – Huyết áp tăng

 – Thở nhanh, thở bất thường: Cơn ngưng thở, thở bụng, thở nông, rút lõm ngực, khò khè, thở rít thì hít vào.

 – Rối loạn tri giác (Glasgow 

Back to top button